Quay lại danh sách
#100Tập 1

Cá Khi me

Chimaera phantasma Jordan and Snyder, 1900

Họ Cá Đuối Điện Một Vây Lưng(Narkidae)
Tên gọi khác:Cá Khi me, Cá chime
Common Name:Chimaera, elephant fish
Kích thước chiều dài
50 cm
0 cm15 cm (Bàn tay)50 cm (Nửa mét)100 cm (1m)

Ghi nhận mẫu vật: Khoảng 50 cm.

Size: About 50 cm.

Dải độ sâu sinh thái
90m – 540m
0 – 200mTầng chiếu sáng (Epipelagic)
200 – 1.000mTầng chạng vạng (Mesopelagic)
> 1.000mTầng biển sâu (Bathypelagic)

Độ sâu ghi nhận: 90 - 540 m

Việt Nam
Vịnh Bắc Bộ
Thế giới
Triều Tiên
Nhật bản
Trung Quốc
Philippines

Đặc điểm hình thái

Hình thái học

Mô tả hình thái: Thân lớn, dẹt bên, thuôn dài và vuốt nhỏ dần về phía đuôi; các đường ống cảm giác bên nổi rõ và uốn lượn. Đầu lớn; các đường ống cảm giác bên trên đầu thẳng hơn là uốn lượn. Mắt lớn, tròn theo chiều ngang; không có lỗ thở. Mõm ngắn, tròn và rất mềm; phần chóp mõm có cấu trúc dạng keo. Miệng nhỏ, thông với lỗ mũi. Lỗ mũi lớn và tròn. Hàm trên có hai tấm răng rộng (phân tách rõ rệt); hàm dưới có một tấm răng duy nhất, nhọn và cong. Vây lưng thứ nhất cao, có một gai cứng duy nhất có thể dựng lên; gai vây lưng thứ nhất mảnh, phía trước nhẵn, phía sau có răng cưa sắc nhọn; vây lưng thứ hai thấp và không có gai; gốc vây lưng dài, kéo dài đến vùng đuôi. Vây hậu môn ngắn, khía sâu; gốc vây hậu môn nhỏ. Vây ngực lớn, hình lá; đỉnh vây tròn tù. Vây bụng nhỏ, hình trứng rộng. Vây đuôi dài, vuốt nhỏ, hình mác với thùy trên và thùy dưới phân biệt rõ rệt. Phần lớn phần sau của đuôi bị tiêu giảm, phần đuôi còn lại hẹp, tròn, mép nhẵn và có dạng như roi. Màu sắc mẫu vật tươi: Bề mặt cơ thể màu bạc, mặt bụng màu trắng; mõm màu đen; rìa các vây màu đen. Màu sắc mẫu vật bảo quản: Bề mặt cơ thể và các vây màu nâu; mặt bụng màu trắng mờ đến xám; vùng bề mặt mõm màu nâu sẫm hơn, mặt dưới mõm màu trắng; rìa vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi màu đen.

Hồ sơ Mẫu vật & Tài liệu dẫn

3 tài liệu dẫn
Nơi lưu trữ mẫu vậtPhân Viện Hải dương học Hải Phòng
Tình trạng mẫu / ghi nhậnRất hiếm.
[1]Herre,
[2]Chu Nguyên Đinh,
[3]Nguyễn Khắc Hường, 1992.