San hô mềm Xenia lillieae
Đặc điểm hình thái
Ngoài tự nhiên, tập đoàn có màu nâu hoặc xanh xám, không ghi nhận sự co bóp của polyp. Kích thước tập đoàn của loài Xenia lillieae khá nhỏ có chiều cao từ 10-25 mm. Phần gốc thân (stalk) ngắn thường phân chia thành 2-3 nhánh, các nhánh này tiếp tục chia thành 2-3 nhánh nhỏ hơn. Xúc tu ngắn, kích thước khoảng 0,9-1,1 mm chiều rộng và 6-9 mm chiều dài. Lá chét có hình trụ, thô và nhọn ở phần đầu. Mỗi bên của xúc tu có 2 hàng lá chét, trên mỗi hàng có từ 10-12 lá chét. Hình dáng và kích thước trâm xương: Trâm xương có hình hơi tròn, kích thước khá nhỏ dao động từ 0,018-0,023 mm chiều dài và 0,013-0,017 mm chiều rộng.
Sinh thái & Dinh dưỡng
Loài này thường tìm thấy ở vùng nước trong, vùng ít được cho chắn. Tập đoàn bám trên nền san hô chết hoặc nền đáy cứng, tập đoàn mọc thành từng cụm (3-5 tập đoàn) hoặc đơn lẻ (1-2 tập đoàn). Phân bố ở độ sâu từ 3-15 m, nhưng thường tập trung ở độ sâu 3-7 m. Loài Xenia lillieae được Roxas mô tả lần đầu tiên vào năm 1933 ở các đảo thuộc Philippines, ở Việt Nam loài này trước đây chi ghi nhận có mặt ở vùng biển ven bờ miền Trung (từ Quảng Ngãi đến Ninh Thuận). Có 2 loài thuộc nhóm có 2 hàng lá chét và cùng dao động trong khoảng 8-12 lá chét trên hàng là Xenia lillieae và Ovabunda impulsatilla, tuy nhiên sự khác biệt giữa chúng là kích thước và hình dạng trâm. Theo đó, loài Ovabunda impulsatilla có kích thước trâm lớn (0,039-0,045 mm) và dạng hình bầu dục trong khi loài Xenia lillieae kích thước trâm nhỏ (0,018-0,023 mm) và có dạng hình tròn. Kết quả phân tích sinh học phân tử (rDNA) cho thấy, loài Xenia lillieae cùng nhánh với các loài Heteroxenia mindorensis, H. fuscescens, H. elisabethae và Xenia puertogalerae. Tuy nhiên, giống Heteroxenia khác với giống Xenia là chúng có thêm polyp ph (siphonozooids) và loài Xenia puertogalerae có sô lượng lá chét trên hàng nhiều hơn (dao động từ 15-17 lá chét) so với loài Xenia lillieae.
