Quay lại danh sách
#161Tập 2

Cá Chuồn vây vằn

Cypselurus poecilopterus (Cuvier and Valenciennes, 1846)

Họ Cá Chuồn(Exocoetidae)
Tên gọi khác:Cá Chuồn vây vằn, Cá Chuồn vây vàng
Common Name:Yellow-winged flying fish.
Kích thước chiều dài
27 cm
0 cm15 cm (Bàn tay)25 cm40 cm

Ghi nhận mẫu vật: 15 - 16 cm. Lớn nhất : 27 cm.

Size: 15 - 16 cm Maximum : 27 cm.

Dải độ sâu sinh thái
0m – 20m
0 – 200mTầng chiếu sáng (Epipelagic)
200 – 1.000mTầng chạng vạng (Mesopelagic)
> 1.000mTầng biển sâu (Bathypelagic)

Độ sâu ghi nhận: 0 - 20 m

Việt Nam
Vùng Biển Miền Trung
Thế giới
Australia
Indonesia
Philippines
Nhật Bản
Trung Quốc

Đặc điểm hình thái

Hình thái học

Mô tả: Tham khảo Shakhovskoy & Parin (2010) để biết chi tiết về mô tả loài. Màu sắc khi còn sống: Các bức ảnh chụp C. poecilopterus trong trạng thái đang bay được ghi nhận trong tài liệu của Howell (2014: trang 7, hình trên; trang 8, hình dưới; trang 15, hình dưới bên phải; trang 31, hình dưới bên phải): vây ngực và vây bụng (ở cá thể nhỏ) có màu vàng với nhiều đốm đen. Nhận xét so sánh: Cypselurus poecilopterus khác biệt rõ rệt với các loài khác thuộc chi Cypselurus (ngoại trừ C. simus và C. callopterus) ở đặc điểm vây ngực có đốm (tuy nhiên, cần lưu ý các kiểu hình sắc tố khác nhau ở cá con của C. poecilopterus). Loài này khác với C. simus và C. callopterus ở số lượng vảy trước vây lưng, lược mang, số đốt sống, cũng như các chỉ số về chiều rộng cơ thể, chiều cao thân lớn nhất, khoảng cách giữa hai ổ mắt, chiều dài vây ngực và một số đặc điểm hình thái khác (xem chi tiết trong Shakhovskoy & Parin 2010). Một số loài thuộc chi Cheilopogon như Ch. spilopterus (Valenciennes), Ch. suttoni (Whitley & Colefax), Ch. atrisignis (Jenkins), Ch. pitcairnensis (Nichols & Breder), Ch. rapanouiensis Parin và Ch. formosus (Kotthaus) cũng có các đốm trên vây ngực và có thể gây nhầm lẫn với C. poecilopterus. Tuy nhiên, các loài thuộc chi Cheilopogon này có thể được phân biệt bởi hàm dưới dài hơn, thường nhô ra phía trước hàm trên (hàm trên thường nhọn ở phía trước so với dạng tròn ở C. poecilopterus), không có răng ba chỏm thực thụ ở hàm và số lượng đốt sống nhiều hơn (ngoại trừ Ch. formosus). Hơn nữa, các đốm trên vây ngực của những loài này thường nhỏ hơn, ít hơn và phân bố không đều thay vì sắp xếp theo các hàng xiên như ở C. poecilopterus. Cá con của các loài này, ngoại trừ Ch. formosus (và Ch. pitcairnensis, loài mà cá con chưa được mô tả), khác biệt ở chỗ có một cặp râu ở cằm. Biến dị nội loài: Các quần thể C. poecilopterus từ biển Ả Rập và vùng biển Nhật Bản có sự khác biệt về hình thái so với các quần thể khác (xem Shakhovskoy & Parin).

Hồ sơ Mẫu vật & Tài liệu dẫn

2 tài liệu dẫn
Nơi lưu trữ mẫu vậtViện Hải dương học (Nha Trang)
Tình trạng mẫu / ghi nhậnThường gặp, số lượng nhiều.
[1]Herre,
[2]Nguyễn Khắc Hường, 1993.