Cá Phèn sọc vàng
Upeneus vittatus

Đặc điểm hình thái
Trong nghiên cứu này, tổng cộng 237 mẫu vật đã được thu thập ngẫu nhiên từ ba bến cá. Kết quả thống kê mô tả được trình bày trong Bảng 1. Các phát hiện cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về kích thước giữa sỏi tai (otolith) trái và phải của loài U. vittatus. Đối với quần thể tại Mumbai, tổng chiều dài, chiều dài sỏi tai, chiều rộng sỏi tai và trọng lượng sỏi tai lần lượt dao động trong khoảng 10,45 – 21,44 cm; 0,314 – 0,5962 cm; 0,112 – 0,398 cm và 0,0029 – 0,0089 g (Bảng 1). Đối với quần thể tại Kakinada, các chỉ số tương ứng dao động từ 11,67 – 17,52 cm; 0,334 – 0,487 cm; 0,212 – 0,304 cm và 0,0031 – 0,0075 g (Bảng 1). Tương tự, đối với quần thể tại Puri, các chỉ số này lần lượt là 11,87 – 16,59 cm; 0,327 – 0,409 cm; 0,208 – 0,272 cm và 0,002 – 0,0099 g (Bảng 1). Quần thể tại Puri có hệ số tương quan cao nhất giữa chiều dài cá và trọng lượng sỏi tai (R² = 0,9101), tiếp theo là các quần thể tại Kakinada và Mumbai (Hình 4 a, d, g). Hệ số tương quan tối đa giữa chiều dài cá và chiều rộng sỏi tai được ghi nhận ở quần thể Kakinada (R² = 0,8957), tiếp theo là các quần thể tại Odisha và Mumbai (Hình 4 b, e, h). Hệ số tương quan tối đa giữa chiều dài cá và chiều dài sỏi tai được ghi nhận ở quần thể Mumbai (R² = 0,9306), tiếp theo là các quần thể tại Odisha và Kakinada (Hình 4 c, f, i).
