Cá Nóc Chấm Tròn

Đặc điểm hình thái
Lagocephalus sceleratus được tìm thấy ở các độ sâu đáy biển 10, 25 và 75 m ở tất cả các vùng. Sinh khối cao nhất đạt 135 kg/km2 vào tháng 2 và mật độ phong phú cao nhất đạt 150 cá thể/km2 vào tháng 10 và tháng 2, đặc biệt rõ rệt tại R1 (Hình 2). Quần thể chiếm ưu thế bởi cá đực từ tháng 5 đến tháng 10, trong khi cá cái dồi dào chủ yếu vào tháng 2. Sinh khối không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các vùng, các mùa và độ sâu đáy (phân tích ANOVA, p lần lượt là 0,675; 0,373 và 0,780). Sinh khối cao nhất tại R1 (X ± SD: 5,43 ± 3,10 kg/km2) và thấp nhất tại R3 (0,03 ± 3,16 kg/km2, Hình 2). Sinh khối tăng từ mức tối thiểu vào tháng 5 (0,13 ± 3,34 kg/km2) và tháng 8 (0,46 ± 3,79 kg/km2) đến mức tối đa vào tháng 10 (1,74 ± 3,41 kg/km2) và tháng 2 (7,97 ± 3,59 kg/km2). Sinh khối tăng theo độ sâu: 0,97 ± 4,12 kg/km2 ở độ sâu 10 m, 3,69 ± 4,43 kg/km2 ở 25 m và 9,72 ± 4,27 kg/km2 ở 75 m (Hình 2 A). Mật độ của L. sceleratus không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các vùng, các mùa (tháng) và độ sâu (p lần lượt là 0,252; 0,215 và 0,269). Mật độ tối đa được tìm thấy ở R1 (17,35 ± 5,28 cá thể/km2) và R4 (13,20 ± 12,04 cá thể/km2), mật độ tối thiểu ở R2 (3,43 ± 5,61 cá thể/km2) và R3 (4,92 ± 5,38 cá thể/km2). Mật độ tăng dần từ tháng 5 (1,77 ± 5,73 cá thể/km2) qua tháng 8 (3,88 ± 6,51 cá thể/km2), và tăng vọt vào tháng 10 (13,90 ± 5,86 cá thể/km2) và tháng 2 (16,95 ± 6,16 cá thể/km2). Trái ngược với sinh khối, mật độ giảm theo độ sâu từ 20,40 ± 6,91 cá thể/km2 ở độ sâu 10 – 25 m xuống 11,36 ± 7,16 cá thể/km2 ở 75 m (Hình 2 B). Tỷ lệ giới tính không khác biệt có ý nghĩa giữa các vùng, mùa và độ sâu (p lần lượt là 0,338; 0,718 và 0,909); tuy nhiên, sự gia tăng giá trị p từ phía tây (0,09 ± 0,22) sang phía đông (1,00 ± 0,44) đã được quan sát thấy, cho thấy mức độ chiếm ưu thế của cá cái. Cá cái hầu như vắng mặt vào tháng 5 và tháng 8, trong khi tỷ lệ cá cái so với cá đực cao gấp đôi vào tháng 10 (0,50 ± 0,25) so với...
