Quay lại danh sách
#226Tập 5

Cá Nóc Chấm Tròn

Lagocephalus sceleratus (Gmelin, 1789)

Họ Cá Nóc(Tetraodontidae)
Tên gọi khác:Cá Cóc biển Chấm Tròn, Cá Nóc gai Chấm Tròn
Common Name:Silverstrip blaasop
Kích thước chiều dài
85 cm
0 cm15 cm (Bàn tay)50 cm (Nửa mét)100 cm (1m)

Ghi nhận mẫu vật: Lớn nhất 85cm.

Size: Maximum 85cm.

Dải độ sâu sinh thái
18m – 100m
0 – 200mTầng chiếu sáng (Epipelagic)
200 – 1.000mTầng chạng vạng (Mesopelagic)
> 1.000mTầng biển sâu (Bathypelagic)

Độ sâu ghi nhận: 18 - 100 m

Việt Nam
Vịnh Bắc Bộ
Vùng Biển Miền Trung
Vùng Biển Nam Bộ
Thế giới
Đông Châu Phi
Mauritiux
Biển Đỏ
Ấn Độ
Xri Lanca
Niu Ghinê
Phigi
Ốttrâylia
Inđônêxia
Malaixia
Thái Lan
Philíppin
Trung Quốc
Đài Loan
Nhật Bản

Đặc điểm hình thái

Hình thái học

Lagocephalus sceleratus được tìm thấy ở các độ sâu đáy biển 10, 25 và 75 m ở tất cả các vùng. Sinh khối cao nhất đạt 135 kg/km2 vào tháng 2 và mật độ phong phú cao nhất đạt 150 cá thể/km2 vào tháng 10 và tháng 2, đặc biệt rõ rệt tại R1 (Hình 2). Quần thể chiếm ưu thế bởi cá đực từ tháng 5 đến tháng 10, trong khi cá cái dồi dào chủ yếu vào tháng 2. Sinh khối không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các vùng, các mùa và độ sâu đáy (phân tích ANOVA, p lần lượt là 0,675; 0,373 và 0,780). Sinh khối cao nhất tại R1 (X ± SD: 5,43 ± 3,10 kg/km2) và thấp nhất tại R3 (0,03 ± 3,16 kg/km2, Hình 2). Sinh khối tăng từ mức tối thiểu vào tháng 5 (0,13 ± 3,34 kg/km2) và tháng 8 (0,46 ± 3,79 kg/km2) đến mức tối đa vào tháng 10 (1,74 ± 3,41 kg/km2) và tháng 2 (7,97 ± 3,59 kg/km2). Sinh khối tăng theo độ sâu: 0,97 ± 4,12 kg/km2 ở độ sâu 10 m, 3,69 ± 4,43 kg/km2 ở 25 m và 9,72 ± 4,27 kg/km2 ở 75 m (Hình 2 A). Mật độ của L. sceleratus không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các vùng, các mùa (tháng) và độ sâu (p lần lượt là 0,252; 0,215 và 0,269). Mật độ tối đa được tìm thấy ở R1 (17,35 ± 5,28 cá thể/km2) và R4 (13,20 ± 12,04 cá thể/km2), mật độ tối thiểu ở R2 (3,43 ± 5,61 cá thể/km2) và R3 (4,92 ± 5,38 cá thể/km2). Mật độ tăng dần từ tháng 5 (1,77 ± 5,73 cá thể/km2) qua tháng 8 (3,88 ± 6,51 cá thể/km2), và tăng vọt vào tháng 10 (13,90 ± 5,86 cá thể/km2) và tháng 2 (16,95 ± 6,16 cá thể/km2). Trái ngược với sinh khối, mật độ giảm theo độ sâu từ 20,40 ± 6,91 cá thể/km2 ở độ sâu 10 – 25 m xuống 11,36 ± 7,16 cá thể/km2 ở 75 m (Hình 2 B). Tỷ lệ giới tính không khác biệt có ý nghĩa giữa các vùng, mùa và độ sâu (p lần lượt là 0,338; 0,718 và 0,909); tuy nhiên, sự gia tăng giá trị p từ phía tây (0,09 ± 0,22) sang phía đông (1,00 ± 0,44) đã được quan sát thấy, cho thấy mức độ chiếm ưu thế của cá cái. Cá cái hầu như vắng mặt vào tháng 5 và tháng 8, trong khi tỷ lệ cá cái so với cá đực cao gấp đôi vào tháng 10 (0,50 ± 0,25) so với...

Hồ sơ Mẫu vật & Tài liệu dẫn

5 tài liệu dẫn
Nơi lưu trữ mẫu vậtViện Hải Dương Học Nha Trang
Tình trạng mẫu / ghi nhậnThường gặp.
[1]Matsubara,
[2]De Beaufort and Briggs,
[3]Masuda and all,
[4]Mai Đình Yên và Nguyễn Văn Trọng,
[5]Shen, 1993.